Chào mừng quý vị đến với .
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Biển đông- hoàng sa phần 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Nguyễn Khắc Coóng (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:39' 07-05-2009
Dung lượng: 15.0 MB
Số lượt tải: 38
Nguồn: st
Người gửi: Nguyễn Khắc Coóng (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:39' 07-05-2009
Dung lượng: 15.0 MB
Số lượt tải: 38
Số lượt thích:
0 người
I- KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Biển Đông là 1 trong 6 biển lớn trên thế giới, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2.
Được bao bọc bởi 9 nước là VN, TQ, CPC, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippin.
Biển Đông có nguồn tài nguyên rất lớn về thủy sản, dầu khí và khoáng sản.
Biển Đông là tuyến đường hàng hải chiến lược trên thế giới (Gần 90% dầu lửa nhập khẩu của Nhật 70% của TQ từ Trung Đông đều đi qua Biển Đông; Mỗi ngày có từ 200 đến 300 tàu vận tải loại lớn đi qua vùng biển này).
Biển Đông có vai trò quan trọng đặc biệt đối với nước ta.
Bờ biển dài hơn 3.260 km, nhiều cảng biển quan trọng, nhiều danh lam thắng cảnh và khu du lịch nổi tiếng(28 tỉnh, tp giáp biển). 100km2 đất liền có 1km bờ biển.
Nhiều ngành KT mũi nhọn gắn liền với biển (du lịch, dầu khí, thủy sản, GTVT, công nghiệp tàu thuỷ...Năm 2005, KT biển và vùng ven biển đạt 48% GDP cả nước (KT biển chiếm 22% GDP) xu hướng ngày càng tăng.
Vùng biển VN có 3000đảo, dt khoảng 1700km2, 23 đảo lớn dt hơn 10km2 (thiết lập 11huyện đảo: Vân Đồn, Cô Tô, Cát Hải, Bạch Long Vĩ, Hòang Sa, Lý Sơn, Trường Sa, Phú Quí, Côn Đảo, Kiên Hải, Phú Quốc), rất quan trọng trong PTKT và cả ANQP.
DIỆN TÍCH CÁC VÙNG BIỂN V N
Đường cơ sở là đường gấp khúc nối liền các mũi đất và các đảo gần bờ. Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (VN tham gia từ 23/6/1994), có 5 vùng biển:
*Nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; Có chế độ pháp lí như trên đất liền.
*Lãnh hải chiều rộng 12 hải lý kể từ đường cơ sở; phía ngoài là đường biên giới QG trên biển;
*Vùng tiếp giáp lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý kể từ đường biên giới trên biển; QG ven biển có quyền kiểm sóat, xử lí các vi phạm về XN cảnh, hải quan, thuế và kiểm dịch YT đối với người và tàu thuyền nước ngoài.
*Vùng đặc quyền KT có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; Có quyền QL, khai thác các lọai TN, các họat động KT liên quan đến khai thác, xdựng và sử dụng các công trình biển và họat động NCKH.
*Thềm lục địa có thể kéo dài ra tới 350 hải lý
Cũng theo Công ước này, ở vùng biển chồng lấn, VN và các QG ven biển khác có nghĩa vụ đàm phán với nhau tìm giải pháp công bằng; trong khi chờ đợi, các bên có thể thỏa thuận về những dàn xếp tạm thời như thỏa thuận về đường QL tạm thời, về cùng khai thác...các thoả thuận tạm thời này sẽ không ảnh hưởng đến đòi hỏi chủ quyền của các bên liên quan và kết quả phân định cuối cùng giữa các bên.
Biển Đông có 2 quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc là Hoàng Sa(HS), Trường Sa(TS).
Quần đảo HS gồm trên 30 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (TQ) khoảng 130 hải lý. Dt toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là Phú Lâm dt khoảng 1,5 km2.
Quần đảo TS gồm hơn 100 đảo, bãi đá, cồn san hô và bãi cạn, cách Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý, đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) khoảng 203 hải lý, cách đảo Hải Nam khoảng 595 hải lý. Dt toàn bộ phần nổi của quần đảo cũng khoảng 10 km2, đảo Ba Bình lớn nhất, rộng khoảng 0,5 km2.
II- VN LÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN XÁC LẬP CHỦ QUYỀN VÀ LÀ QG DUY NHẤT QUẢN LÝ LIÊN TỤC, HOÀ BÌNH PHÙ HỢP VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁP QT ĐỐI VỚI 2 QUẦN ĐẢO HS VÀ TS.
Cho đến thế kỷ XVII, 2 quần đảo HS, TS là các đảo vô chủ. Vào nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “Đội HS” (Cát Vàng) lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra HS thu lượm hàng hóa của các tàu đắm, đánh bắt hải sản quí hiếm mang về dâng nộp triều đình; đồng thời đo vẽ, trồng cây và dựng mốc trên quần đảo.
Lúc bấy giờ, địa danh quần đảo HS liền một dải, bao gồm cả HS và Vạn Lý TS.
Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, Chúa Nguyễn tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” lấy người thôn Tứ Chính, xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận ra quần đảo TS làm nhiệm vụ như đội HS.
Các hoạt động của Nhà Nguyễn tại HS và TS được lưu lại trong tài liệu lịch sử của nhiều tác giả trong nước như “Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá tự Công Đạo (l686) hay “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776) mà còn được người nước ngoài ghi chép lại khi họ đến làm ăn, sinh sống tại VN.
Đại Nam nhất thống toàn đồ 1820
– 41
An Nam Đại quốc hoạ đồ
(Linh mục Jean Louis Taberd 1838)
Thời Pháp thuộc, CP Pháp đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền VN ở HS,TS với tư cách người kế thừa chủ quyền VN.
l925-27, Pháp đã tổ chức điều tra trên HS và duy trì tuần tra trên quần đảo. Liên tục trong các năm l930-33, Pháp đã đưa quân đội ra đóng ở TS.
l933, Pháp đã sáp nhập quần đảo TS vào tỉnh Bà Rịa, năm 1938 thành lập đơn vị hành chính ở HS thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Pháp còn đặt cột mốc, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện trên 2 quần đảo. Trong quan hệ QT, Pháp đã nhiều lẩn phản đối TQ nêu yêu sách chủ quyền đối với HS.
14/10/1950, Pháp chính thức chuyển giao việc quản lý quần đảo HS cho CP Bảo Đại.
Tại Hội nghị San Francisco(l951),TTg kiêm Ngoại trưởng CP Bảo Đại Trần Văn Hữu đã khẳng định chủ quyền từ lâu đời của VN đối với 2 quần đảo mà không gặp phải ý kiến phản đối nào.
1956, Chính phủ VNCH quyết định quần đảo TS thuộc tỉnh Phước Tuy, chuyển quần đảo HS từ tỉnh Thừa Thiên về tình Quảng Nam (1961).
Tháng 4/1975, Chính phủ CMLT CHMNVN tiếp quản 6 đảo : TS, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang.
Chính phủ CMLT CHMNVN tiếp tục khẳng định chủ quyền của VN đối với 2 quần đảo HS, TS.
Nhà nước VN đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về biển và 2 quần đảo HS, TS như: Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN VN về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền KT và thềm lục địa VN năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN VN về đường cơ sở năm 1982; Hiến pháp năm l992; NQQH khoá IX, kỳ họp thứ 5 (1994) về phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển 1982; Luật Biên giới QG năm 2003.
Nhà nước VN nhiều lần công bố Sách trắng về chủ quyền của VN đối với HS, TS, khẳng định 2 quần đảo HS, TS là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ VN, VN có đầy đủ chủ quyền đối với 2 quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn QT.
Năm l982, CP đã quyết định thành lập huyện TS tỉnh Đồng Nai, huyện HS tỉnh QN-Đà Nẵng. Hiện nay, huyện HS thuộc tp Đà Nẵng và huyện TS thuộc tỉnh Khánh Hoà. Tháng 4/2007, Chính phủ VN quyết định thành lập thị trấn TS, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện TS.
TQ dùng vũ lực chiếm các đảo phía Đông HS (4/1956), các đảo phía tây HS(1/1974), một số bãi ngầm ở TS (3/1988, l/1995), chính quyền VN mỗi thời kỳ đã lên án, kiên quyết phản đối:
*20/1/1974, Chính phủ CMLT CHMNVN đã ra Tuyên bố 3 điểm phản đối hành động dùng vũ lực của TQ ở HS;
*14/2/1975, Bộ Ngoại giao CP VNCH công bố “Sách trắng” khẳng định các quyền lịch sử và pháp lý của VN đối với HS, TS;
*14/3/1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN VN đã ra Tuyên bố lên án TQ gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại TS;
*Các năm 1979,l981,l988, Bộ Ngoại giao nước CH XHCN VN đã 3 lần công bố Sách trắng về HS, TS.
Rõ ràng, chúng ta có đủ bằng chứng lịch sử-pháp lý khẳng định chủ quyền VN đối với 2 quần đảo HS, TS; VN là QG duy nhất đã chiếm hữu, quản lý 2 quần đảo một cách liên tục, hoà bình, phù hợp với các quy định của luật pháp QT.
III-LẬP TRƯỜNG CỦA CÁC BÊN TRANH CHẤPCHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI 2 QUẦN ĐẢO HS, TS CỦA VN.
Sang thế kỷ XX, TQ và 1 số nước trong khu vực nêu yêu sách chủ quyền đối với 2 quần đảo HS, TS của VN, thậm chí còn dùng vũ lực chiếm đoạt 1 số đảo, bãi đá ở khu vực này, bất chấp luật pháp QT, tình hình Biển Đông ngày càng phức tạp.
TQ đã chiếm toàn bộ quần đảo HS. Ở TS, ngoài 21 đảo, bãi đá và bãi ngầm VN đang nắm giữ, TQ đang chiếm đóng 7 bãi đá, bãi cạn, Đài Loan chiếm 2 đảo, bãi cạn, Philippin chiếm đóng 9 và Malaysia chiếm đóng 5 đảo, bãi đá, bãi cạn. Brunei cũng là một bên tranh chấp nhưng không chiếm giữ đảo, bãi đá nào.
1- TQ
Sau cuộc đổ bộ chớp nhoáng của Đô đốc Lý Chuẩn lên HS (1909), TQ bắt đầu quan tâm quần đảo này. Tuy nhiên, tại các hội nghị QT về quy chế lãnh thổ sau Chiến tranh thế giới II, TQ không nói gì tới 2 quần đảo HS, TS.
1947, Chính quyền Trung Hoa dân quốc xuất bản bản đồ ``Nam hải chư đảo” và được CHND Trung Hoa in lại năm 1950 trên bản đồ ``Trung Hoa ND CH quốc phân tỉnh tinh đồ” thể hiện đường yêu sách 9 đoạn đứt khúc (gọi nôm na là đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông, cho rằng đây là đường “quốc giới” và vùng biển phía trong là “vùng biển thuộc quyền tài phán của TQ”
 






Các ý kiến mới nhất