Chào mừng quý vị đến với .
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Chi Pheo - Truong Thi Linh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Linh
Ngày gửi: 15h:52' 14-05-2009
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Trương Thị Linh
Ngày gửi: 15h:52' 14-05-2009
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
CHÍ PHÈO
- Nam Cao-
Kết cấu bài giảng
I. GIỚI THIỆU
1.Hoàn cảnh sáng tác
2.Tóm tắt truyện
II. PHÂN TÍCH
1. Giới thiệu đôi nét về làng Vũ Đại
2. Giới thiệu đôi nét về hình tượng nhân vật Bá Kiến
3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
4. Nghệ thuật
III. CHỦ ĐỀ
IV. TỔNG KẾT
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Truyện được Nam Cao sáng tác năm 1941.
- Nam Cao dựa vào “người thật, việc thật” ở làng Đại Hoàng rồi hư cấu thêm để viết tác phẩm này.
- Truyện lúc đầu có tên “Cái lò gạch cũ”, sau đó nhà xuất bản đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi” (1941), cuối cùng khi in lại trong tập “Luống cày” (1945), tác giả đổi tên là “Chí Phèo”.
2. Tóm tắt truyện
I. GIỚI THIỆU
II. PHÂN TÍCH
1. Hình ảnh làng Vũ Đại.
- Làng: không quá hai nghìn, xa phủ, xa tỉnh, nghèo đói quanh năm, nạn cường hào, ảnh hưởng thuế má.
- Có tôn ti trật tự nghiêm ngặt: trên cùng là cụ tiên chỉ Bá Kiến (4 đời làm tổng Lý), tiếp đến là bọn cường hào… thay nhau cai trị, áp bức bóc lột dân lành; đồng thời thường xuyên diễn ra mâu thuẫn trong nội bộ: bọn chúng “chỉ là một đàn cá tranh mồi”, “bè nào cũng muốn ăn”, rình cơ hội để trị nhau, “chờ nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ nhau”.
- Nông dân: nghèo khổ, sống cam chịu và định kiến.
Làng Vũ Đại là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945: ngột ngạt, đen tối
2. Bá Kiến – điển hình cho bọn cường hào, ác bá nông thôn:
Xuất thân: + Bốn đời làm tổng lý
+ Lão già khôn “róc đời”
Có nhiều thủ đoạn trong thống trị:
+ Biết thu dụng những thằng bạt mạng: Chí phèo, Binh Chức, Năm Thọ…
+ Biết ngọt, nhạt đúng lúc
Bản chất gian hùng:
+ Giọng quát rất “sang”: “bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh của con người”; khi thì phỉnh nịnh
+ Lối nói ngọt nhạt, “cái cười Tào Tháo”,
+ Chính sách cai trị thâm độc.
II. PHÂN TÍCH
3. Chí Phèo – điển hình cho tầng lớp
cố nông bị áp bức tàn khốc
a.Chí Phèo xuất hiện trước bàn dân thiên hạ bằng tiếng chửi: “Hắn vừa đi vừa chửi…”
Vì sao chửi?
“Hắn vừa đi vừa chửi…. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật… Đã thế hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều…. Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo …”
Việc chửi bới đó cho thấy đó là phản ứng của y đối với toàn bộ cuộc đời, bộc lộ tâm trạng bất mãn của một con người ít nhiều có ý thức được mình đã bị xã hội gạt bỏ ra khỏi thế giới loài người.
Việc chửi bới đó cho thấy điều gì?
Chí Phèo trong suy nghĩ trẻ thơ
b. Quá trình bị tha hóa
b.1. Từ lúc sinh ra cho đến trước khi đi tù:
+ Xuất thân: con hoang, bị bỏ rơi, sống bằng tình thương của dân làng; lớn lên làm canh điền cho BK
+ Ngoại hình: Lực lưỡng, khỏe mạnh nên được bà ba “ưu đãi”…
+ Có ước mơ bình dị: “…một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải….” nghèo nhưng hạnh phúc và đầy ắp tiếng cười.
+ Phẩm chất: đầy lòng tự trọng, có ý thức nhân phẩm (cảm thấy nhục nhã, tủi hổ khi bà Ba gọi vào “bóp chân” và lên lên nữa…)
Chí là người nông dân hiền lành lương thiện, có ý thức về nhân phẩm.
b.2. Khi ra tù – trở về làng:
Bá Kiến tiếp tay với nhà tù thực dân làm biến đổi Chí Phèo cả nhân hình lẫn nhân tính:
Ngoại hình, tính cách của một kẻ côn đồ, một thằng “săng đá” xa lạ với dân làng Vũ Đại và với chính bản thân mình.
Trước
Và sau khi ở tù ra
4. Gặp Thị Nở - Bi kịch cự tuyệt quyền được làm người
a. Thị Nở
Người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn”, ngơ ngẩn, ế chồng: đôi môi nứt nẻ như bờ ruộng, răng chìa ra ngoài…
Đêm trăng vườn chuối…!!!
b. Bi kịch bị cự tuyệt làm người:
b.1. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở
Hoàn cảnh gặp gỡ:
+ Trong một đêm trăng, dưới bụi chuối, bên bờ sông (tác giả đã miêu tả Thị Nở ngẩn ngơ, hay quên. Đi kín nước về, ngủ, muỗi cắn làm thị nhớ là đã bỏ quên cái áo bên bờ sông, thị ra bờ sông lấy, gió mát quá, thị ngủ quên luôn, không thèm cài nút áo. Đấy là cơ hội để cho hai người đến với nhau một cách tình cờ).
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, Chí lần đầu tiên nghe thấy:
+ Tiếng chim hót;
+ Tiếng nói chuyện của những người đàn bà đi chợ về;
+ Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…
Tất cả là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống.
Chí nhìn thấy ánh sáng và bóng đêm, điều mà trước đó Chí chưa từng bao giờ được thấy:
+ Mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ… Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng.
Hồi phục khả năng nhận thức về chính mình
- Lòng hắn mơ hồ buồn: Buồn về gì không rõ
- Chao ôi buồn: Nỗi buồn đã có nguyên nhân: hắn chưa từng được nghe những âm thanh quen thuộc của cuộc sống
Nao nao buồn: Gợi nhắc lại quá khứ của hắn. Có một thời hắn cũng đã từng mơ, một giấc mơ về hạnh phúc
Cảm xúc của Chí: + Tăng dần mức độ
+ Lý trí và khả năng nhận thức đã tỉnh táo
Dấu hiệu hồi sinh của một kiếp người.
b.2. Khi được Thị Nở cho ăn cháo hành:
Tại sao bát cháo hành lại là biểu tượng của tình yêu thương?
Chí ngạc nhiên, xúc động, mắt hình như “ươn ướt” và nhận ra chân lí sơ đẳng: con người ta có thể cho mà không cần cướp giật hoặc dọa nạt.
Thị Nở giúp Chí phát hiện ra một điều bình thường: “cháo hành rất ngon” và “đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say”
b.2. Khi được Thị Nở cho ăn cháo hành:
Thị Nở:
Làm thức dậy trong lòng Chí ước mơ về hạnh phúc;
Là cầu nối cho Chí trở lại làm người;
Và chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.
Nguyên nhân:
+ Bà cô Thị Nở : không chấp nhận quan hệ của họ: bà từ hoảng hốt uất ức cảm thấy nhục xỉa xói biểu hiện của định kiến xã hội, và dư luận.
Kết quả:
+ Chí Phèo: ngẩn người sửng sốt gọi lại đuổi theo nắm tay, bị dúi, ngã kêu (uống) buồn ôm mặt khóc rưng rức.
Sự đoạn tuyệt của Thị Nở đã khiến Chí Phèo rơi vào bi kịch: Chí Phèo muốn làm người lương thiện thì không được nhìn nhận, nhưng quay lại kiếp sống thú vật trước kia thì không muốn.
b.3. Khi bị từ chối:
“Đàn ông chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ.
Đã nhịn được đến bằng này tuổi thì nhịn hẳn; ai lại đi lấy thằng Chí Phèo. Tao muốn làm người lương thiện. Không được ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa biết không? “
Giải quyết bi kịch: giết chết Bá Kiến Chí Phèo nhận rõ kẻ đã cướp hết nhân phẩm của mình.
Cánh cửa trở về cuộc đời lương thiện đã khép lại Chí Phèo tự sát ý thức nhân phẩm hồi sinh.
Thực chất đây là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống. Tuy manh động, tự phát nhưng không phải là hành động của một kẻ lưu manh.
b.3. Hành động giết Bá Kiến và tự sát:
Em có suy nghĩ gì về việc Chí Phèo đâm chết Bá Kiến ?
Câu nói “Ai cho tao lương thiện” có ý nghĩa như thế nào?
4. Nghệ thuật
- Xây dựng được nhân vật điển hình: Chí Phèo, Bá Kiến…
- Cách kể chuyện hấp dẫn, lôi cuốn.
- Ngòi bút phân tích tâm lý nhân vật sắc sảo.
- Bút pháp trần thuật mới mẻ, linh hoạt, kết cấu đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn nhân vật hồi tưởng, liên tưởng phong phú kết cấu vòng tròn.
- Ngôn ngữ tự nhiên, sống động, có sử dụng khẩu ngữ, có sự đan xen giữa lời của tác giả và lời của nhân vật.
III. CHỦ ĐỀ
Tác phẩm miêu tả nỗi khổ cùng cực của người nông dân bị lưu manh hoá, phản ánh tấm bi kịch tâm hồn đau đớn, dữ dội và khát khao quyền sống, quyền làm người nhưng bị xã hội, cuộc đời cự tuyệt.
IV. TỔNG KẾT
Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị phê phán độc đáo, từ đó làm toát lên giá trị nhân đạo sâu sắc. Với nghệ thuật viết truyện ngắn điêu luyện, ngôn ngữ sắc lạnh, miêu tả nhân vật vừa thông qua ngoại hình, vừa biến chuyển nội tâm, Nam Cao đã xây dựng được những tính cách điển hình mà độc giả đời sau sẽ còn nhớ mãi.
Tượng gốm
“ Chí Phèo - Thị Nở”
- Nam Cao-
Kết cấu bài giảng
I. GIỚI THIỆU
1.Hoàn cảnh sáng tác
2.Tóm tắt truyện
II. PHÂN TÍCH
1. Giới thiệu đôi nét về làng Vũ Đại
2. Giới thiệu đôi nét về hình tượng nhân vật Bá Kiến
3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
4. Nghệ thuật
III. CHỦ ĐỀ
IV. TỔNG KẾT
1. Hoàn cảnh sáng tác
- Truyện được Nam Cao sáng tác năm 1941.
- Nam Cao dựa vào “người thật, việc thật” ở làng Đại Hoàng rồi hư cấu thêm để viết tác phẩm này.
- Truyện lúc đầu có tên “Cái lò gạch cũ”, sau đó nhà xuất bản đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi” (1941), cuối cùng khi in lại trong tập “Luống cày” (1945), tác giả đổi tên là “Chí Phèo”.
2. Tóm tắt truyện
I. GIỚI THIỆU
II. PHÂN TÍCH
1. Hình ảnh làng Vũ Đại.
- Làng: không quá hai nghìn, xa phủ, xa tỉnh, nghèo đói quanh năm, nạn cường hào, ảnh hưởng thuế má.
- Có tôn ti trật tự nghiêm ngặt: trên cùng là cụ tiên chỉ Bá Kiến (4 đời làm tổng Lý), tiếp đến là bọn cường hào… thay nhau cai trị, áp bức bóc lột dân lành; đồng thời thường xuyên diễn ra mâu thuẫn trong nội bộ: bọn chúng “chỉ là một đàn cá tranh mồi”, “bè nào cũng muốn ăn”, rình cơ hội để trị nhau, “chờ nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ nhau”.
- Nông dân: nghèo khổ, sống cam chịu và định kiến.
Làng Vũ Đại là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945: ngột ngạt, đen tối
2. Bá Kiến – điển hình cho bọn cường hào, ác bá nông thôn:
Xuất thân: + Bốn đời làm tổng lý
+ Lão già khôn “róc đời”
Có nhiều thủ đoạn trong thống trị:
+ Biết thu dụng những thằng bạt mạng: Chí phèo, Binh Chức, Năm Thọ…
+ Biết ngọt, nhạt đúng lúc
Bản chất gian hùng:
+ Giọng quát rất “sang”: “bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh của con người”; khi thì phỉnh nịnh
+ Lối nói ngọt nhạt, “cái cười Tào Tháo”,
+ Chính sách cai trị thâm độc.
II. PHÂN TÍCH
3. Chí Phèo – điển hình cho tầng lớp
cố nông bị áp bức tàn khốc
a.Chí Phèo xuất hiện trước bàn dân thiên hạ bằng tiếng chửi: “Hắn vừa đi vừa chửi…”
Vì sao chửi?
“Hắn vừa đi vừa chửi…. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật… Đã thế hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều…. Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo …”
Việc chửi bới đó cho thấy đó là phản ứng của y đối với toàn bộ cuộc đời, bộc lộ tâm trạng bất mãn của một con người ít nhiều có ý thức được mình đã bị xã hội gạt bỏ ra khỏi thế giới loài người.
Việc chửi bới đó cho thấy điều gì?
Chí Phèo trong suy nghĩ trẻ thơ
b. Quá trình bị tha hóa
b.1. Từ lúc sinh ra cho đến trước khi đi tù:
+ Xuất thân: con hoang, bị bỏ rơi, sống bằng tình thương của dân làng; lớn lên làm canh điền cho BK
+ Ngoại hình: Lực lưỡng, khỏe mạnh nên được bà ba “ưu đãi”…
+ Có ước mơ bình dị: “…một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải….” nghèo nhưng hạnh phúc và đầy ắp tiếng cười.
+ Phẩm chất: đầy lòng tự trọng, có ý thức nhân phẩm (cảm thấy nhục nhã, tủi hổ khi bà Ba gọi vào “bóp chân” và lên lên nữa…)
Chí là người nông dân hiền lành lương thiện, có ý thức về nhân phẩm.
b.2. Khi ra tù – trở về làng:
Bá Kiến tiếp tay với nhà tù thực dân làm biến đổi Chí Phèo cả nhân hình lẫn nhân tính:
Ngoại hình, tính cách của một kẻ côn đồ, một thằng “săng đá” xa lạ với dân làng Vũ Đại và với chính bản thân mình.
Trước
Và sau khi ở tù ra
4. Gặp Thị Nở - Bi kịch cự tuyệt quyền được làm người
a. Thị Nở
Người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn”, ngơ ngẩn, ế chồng: đôi môi nứt nẻ như bờ ruộng, răng chìa ra ngoài…
Đêm trăng vườn chuối…!!!
b. Bi kịch bị cự tuyệt làm người:
b.1. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở
Hoàn cảnh gặp gỡ:
+ Trong một đêm trăng, dưới bụi chuối, bên bờ sông (tác giả đã miêu tả Thị Nở ngẩn ngơ, hay quên. Đi kín nước về, ngủ, muỗi cắn làm thị nhớ là đã bỏ quên cái áo bên bờ sông, thị ra bờ sông lấy, gió mát quá, thị ngủ quên luôn, không thèm cài nút áo. Đấy là cơ hội để cho hai người đến với nhau một cách tình cờ).
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, Chí lần đầu tiên nghe thấy:
+ Tiếng chim hót;
+ Tiếng nói chuyện của những người đàn bà đi chợ về;
+ Tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…
Tất cả là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống.
Chí nhìn thấy ánh sáng và bóng đêm, điều mà trước đó Chí chưa từng bao giờ được thấy:
+ Mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ… Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng.
Hồi phục khả năng nhận thức về chính mình
- Lòng hắn mơ hồ buồn: Buồn về gì không rõ
- Chao ôi buồn: Nỗi buồn đã có nguyên nhân: hắn chưa từng được nghe những âm thanh quen thuộc của cuộc sống
Nao nao buồn: Gợi nhắc lại quá khứ của hắn. Có một thời hắn cũng đã từng mơ, một giấc mơ về hạnh phúc
Cảm xúc của Chí: + Tăng dần mức độ
+ Lý trí và khả năng nhận thức đã tỉnh táo
Dấu hiệu hồi sinh của một kiếp người.
b.2. Khi được Thị Nở cho ăn cháo hành:
Tại sao bát cháo hành lại là biểu tượng của tình yêu thương?
Chí ngạc nhiên, xúc động, mắt hình như “ươn ướt” và nhận ra chân lí sơ đẳng: con người ta có thể cho mà không cần cướp giật hoặc dọa nạt.
Thị Nở giúp Chí phát hiện ra một điều bình thường: “cháo hành rất ngon” và “đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say”
b.2. Khi được Thị Nở cho ăn cháo hành:
Thị Nở:
Làm thức dậy trong lòng Chí ước mơ về hạnh phúc;
Là cầu nối cho Chí trở lại làm người;
Và chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.
Nguyên nhân:
+ Bà cô Thị Nở : không chấp nhận quan hệ của họ: bà từ hoảng hốt uất ức cảm thấy nhục xỉa xói biểu hiện của định kiến xã hội, và dư luận.
Kết quả:
+ Chí Phèo: ngẩn người sửng sốt gọi lại đuổi theo nắm tay, bị dúi, ngã kêu (uống) buồn ôm mặt khóc rưng rức.
Sự đoạn tuyệt của Thị Nở đã khiến Chí Phèo rơi vào bi kịch: Chí Phèo muốn làm người lương thiện thì không được nhìn nhận, nhưng quay lại kiếp sống thú vật trước kia thì không muốn.
b.3. Khi bị từ chối:
“Đàn ông chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ.
Đã nhịn được đến bằng này tuổi thì nhịn hẳn; ai lại đi lấy thằng Chí Phèo. Tao muốn làm người lương thiện. Không được ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa biết không? “
Giải quyết bi kịch: giết chết Bá Kiến Chí Phèo nhận rõ kẻ đã cướp hết nhân phẩm của mình.
Cánh cửa trở về cuộc đời lương thiện đã khép lại Chí Phèo tự sát ý thức nhân phẩm hồi sinh.
Thực chất đây là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống. Tuy manh động, tự phát nhưng không phải là hành động của một kẻ lưu manh.
b.3. Hành động giết Bá Kiến và tự sát:
Em có suy nghĩ gì về việc Chí Phèo đâm chết Bá Kiến ?
Câu nói “Ai cho tao lương thiện” có ý nghĩa như thế nào?
4. Nghệ thuật
- Xây dựng được nhân vật điển hình: Chí Phèo, Bá Kiến…
- Cách kể chuyện hấp dẫn, lôi cuốn.
- Ngòi bút phân tích tâm lý nhân vật sắc sảo.
- Bút pháp trần thuật mới mẻ, linh hoạt, kết cấu đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn nhân vật hồi tưởng, liên tưởng phong phú kết cấu vòng tròn.
- Ngôn ngữ tự nhiên, sống động, có sử dụng khẩu ngữ, có sự đan xen giữa lời của tác giả và lời của nhân vật.
III. CHỦ ĐỀ
Tác phẩm miêu tả nỗi khổ cùng cực của người nông dân bị lưu manh hoá, phản ánh tấm bi kịch tâm hồn đau đớn, dữ dội và khát khao quyền sống, quyền làm người nhưng bị xã hội, cuộc đời cự tuyệt.
IV. TỔNG KẾT
Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị phê phán độc đáo, từ đó làm toát lên giá trị nhân đạo sâu sắc. Với nghệ thuật viết truyện ngắn điêu luyện, ngôn ngữ sắc lạnh, miêu tả nhân vật vừa thông qua ngoại hình, vừa biến chuyển nội tâm, Nam Cao đã xây dựng được những tính cách điển hình mà độc giả đời sau sẽ còn nhớ mãi.
Tượng gốm
“ Chí Phèo - Thị Nở”
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất